Lưu trữ | Movie RSS feed for this section

Norwegian Wood

6 Th4

I once had a girl, or should I say, she once had me…
She showed me her room, isn’t it good, norwegian wood?

She asked me to stay and she told me to sit anywhere,
So I looked around and I noticed there wasn’t a chair.

I sat on a rug, biding my time, drinking her wine
We talked until two and then she said, “It’s time for bed”

She told me she worked in the morning and started to laugh.
I told her I didn’t and crawled off to sleep in the bath

And when I awoke, I was alone, this bird had flown
So I lit a fire, isn’t it good, norwegian wood.

Advertisements

My life will never be the same

15 Th1

My life will never be the same
My heart is burning without shame
I feel the sun in me
When you return you’ll see a change
My heart is whispering your name
My love is calling once again
And I shall always be
all you believe, all you can dream
I’m not the same

Some people search all their lives
I feel that my turn has come
to reach high into the sky
And finally, a star shines on me
Finally, I can touch eternity

My life will never be the same
Your love surrounds me once again
Endless horizons glow
and show me all I need to know
Our lives will never be the same
My love, an everlasting flame
Burning eternally for you alone
when you’re with me
in love eternally for you alone
when you’re with me, in love again

Reflection – Christina Aguilera

15 Th1

 

Look at me
You may think you see
Who I really am
But you’ll never know me
Every day, is as if I play apart
Now I see
If I wear a mask
I can fool the world
But I can not fool
My heart
Who is that girl I see
Staring straight back at me?
When will my reflection show
Who I am inside?
I am now
In a world where I have to
Hide my heart
And what I believe in
But somehow
I will show the world
What’s inside my heart
And be loved for who I am
Who is that girl I see
Staring straight back at me?
Why is my reflection
Someone I don’t know?
Must I pretend that i’m
Someone else for all time?
When will my reflection show
Who I am inside?
There’s a heart that must
Be free to fly
That burns with a need
To know the reason why
Why must we all conceal
What we think
How we feel
Must there be a secret me
I’m forced to hide?
I won’t pretend that i’m
Someone else
For all time
When will my reflections show
Who I am inside?
When will my reflections show
Who I am inside?

The Piano

23 Th12

“Dương cầm” là một bản hòa âm hoàn hảo của tình yêu, chứa đựng sự hấp dẫn mãnh liệt và những dư vị bâng khuâng để lại cho người xem. (Jic)

Lấy mốc thời gian vào giữa thế kỷ 19, phim xoay quanh Ada (Holly Hunter thủ vai) – một người đàn bà góa chồng và bị câm – chuyển đến New Zealand để bắt đầu cuộc hôn nhân sắp đặt với một địa chủ trong vùng. Ada mang theo cô gái nhỏ Flora (Anna Paquin thủ vai) cùng cây đàn dương cầm mà cô vô cùng yêu quý. Hành trình đến ngôi làng của người chồng mới rất vất vả nên cuối cùng, người chồng đã quyết định bỏ lại chiếc đàn của cô mà cô hết sức trân trọng bên bờ biển. Đau khổ và tuyệt vọng, cùng nỗi cô đơn nơi đất khách, không ít lần Ada muốn tìm cách ra bãi biển để mang cây đàn về.

Ada và con gái trong phim.

Tình cờ cô gặp được Baines (Harvey Keitel thủ vai), một người đàn ông nghèo cùng làng. Baines thấy được nỗi khát khao và sự cô đơn trong Ada. Anh đã tìm cách mang cây đàn dương cầm về nhà mình và tìm cách tiếp cận cô. Một tình cảm mới bắt đầu nảy sinh giữa Ada và Baines. Chồng của Ada biết được và ông vạch ra một kế hoạch để hành hạ Ada, cách ly cô khỏi tình yêu với Baines và cây đàn dương cầm. Nhưng cuối cùng, Baines cũng vượt qua mọi trở ngại để đưa hai mẹ con Ada trở về đất liền…

Xem The Piano, người xem bị ấn tượng và thu hút mạnh bởi tính cách của nhân vật chính. Cả cuộc đời cô tính đến lúc đó luôn gắn liền với hai chữ: Tình yêu.

Đầu tiên, đó là tình yêu giữa Ada và cây dương cầm. Ada bị câm, vì thế tiếng nói của cô được thoát ra qua những nốt nhạc, những giai điệu và cây dương cầm chính là phương tiện để cô giao tiếp với thế với bên ngoài, để gửi vào đấy những cảm xúc, những suy nghĩ. Trong chuyến đi ấy, hai mẹ con Ada đã cố gắng mang theo cây đàn piano yêu quý nhưng đến vùng đất của người chồng mới thì anh ta đã bỏ lại cây đàn ngay ở bờ biển. Ngay sau đó, hai mẹ con đã quyết định ngủ lại bên bờ biển bên cạnh cây đàn, nhưng sáng hôm sau, họ vẫn phải trở về nhà mà không có nó.

Hai mẹ con thả hồn bên cây đàn piano.

Hình ảnh Ada đứng trên núi nhìn xuống, cây đàn piano chỉ là một chấm nhỏ xíu ở xa, đã lột tả phần nào tình yêu của cô đối với cây đàn. Ada hằng ngày đứng bên cửa sổ, tưởng tượng về hình ảnh cây đàn yêu quý của mình. Khi người chồng thông báo rằng anh ta sẽ đem cây đàn đổi lấy mảnh đất, Ada đã phẫn uất, cô không thể nói được nên mọi trạng thái cảm xúc cô đều bộc lộ ra hành động: cô giật quần áo, khăn vải trên dây xuống, cô đập bàn, cô ghi một một giấy “it’s mine, just mine” và gạch chân chữ “mine” như để nhấn mạnh quả quyết và triệt để sự sở hữu và tình yêu của cô với cây đàn. Sau đó, cô và con gái Flora đã đi tìm Baines để nhờ anh giúp và ngồi lỳ ở ngoài nhà cho đến khi anh ta đồng ý đưa hai mẹ con ra bãi biển để nhìn ngắm cây đàn.

Trường đoạn ở ngoài bãi biển được thể hiện rất sâu sắc và đầy tính nhạc. Người xem có thể nhìn ngắm được nụ cười của Ada khi cô đánh đàn, đúng là chỉ khi được ngồi bên cây đàn piano, được “nhảy múa” những ngón tay trên từng phím đàn và chơi những bản nhạc hay, Ada mới được là chính mình. Cô thoải mái thả hồn vào từng giai điệu, cô cười, cô vui sướng. Dường như, khoảnh khắc đó chỉ còn lại Ada, cây đàn và trời đất. Cùng đồng điệu và hòa hợp với cảm xúc của Ada là con gái Flora của cô.

Ngoài cây đàn, Flora cũng là “thông dịch viên” của mẹ, là cầu nối để Ada đến với cuộc sống giao tiếp bên ngoài. Trong lúc mẹ đàn, cô bé vô tư, hồn nhiên chạy nhảy trên bãi biển và thi thoảng cất tiếng hát, tiếng gọi “mẹ, mẹ ơi, xem con này”, đầy phóng khoáng và tự do. Còn Baines, ban đầu thấy khó chịu với hai mẹ con, nhưng khi chứng kiến cảnh hai mẹ con vui đùa bên cây đàn và thấy được tình cảm của Ada, anh ta dần dần hiểu được nỗi lòng và cảm xúc của cô. Baines chỉ im lặng, đi lại xung quanh cô, đôi lúc vẽ nguệch ngoạc gì đó xuống cát…

Holly Hunter và Anna Paquin đều đoạt Oscar nhờ vai diễn trong bộ phim này.

Đến lúc này, bộ phim bắt đầu đi theo hướng khác, không đơn thuần là tình yêu giữa Ada với cây dương cầm nữa, mà đã có thêm tình yêu nam nữ. Kể từ giây phút đưa hai mẹ con Ada ra bãi biển và cảm nhận nỗi lòng của cô, tình cảm trong Baines đã bắt đầu được nhen nhúm. Vì muốn hiểu cô hơn, muốn gần gũi và đồng điệu với tâm hồn của cô hơn, nên Baines đã tìm cách đưa cây đàn về nhà mình và nhờ Ada dạy anh chơi đàn. Thực chất, dù biết chơi đàn hay không với Baines không quan trọng, cái anh cần chỉ là được nhìn thấy Ada, “đem” cô về không gian riêng của mình, được lắng nghe tiếng đàn của cô, nhìn thấy cô cười hạnh phúc và được “chạm” vào nỗi lòng cô qua những khúc nhạc. Dần dần, trái tim lạnh lùng của người đàn ông đã bị chinh phục bởi tiếng đàn ấy. Và với Baines, tình cảm đó đã không dừng lại ở “nhìn”, mà anh còn muốn “sờ”, muốn cảm nhận trực tiếp da thịt của Ada.

Baines đã đưa ra một thỏa thuận với Ada, rằng cô sẽ được mua lại cây đàn nếu thực hiện mọi điều Baines nói, và anh sẽ bán dần từng phím đàn cho đến khi cô có thể mua lại toàn bộ nó, bù lại cô sẽ phải cởi áo, vén váy… còn anh sẽ được nhìn ngắm cô. Phải nói rằng, trường đoạn này mang đậm “tính dục” nhất trong phim, không trần trụi, phô trương mà ngược lại vô cùng kín đáo và tinh tế. Hình ảnh Baines chui xuống gầm cây đàn, nằm dưới chân cô, nhìn lên, rồi đưa tay vân vê xung quanh một lỗ rách nhỏ trên đôi tất của Ada – nơi hé lộ ra một phần nhỏ làn da trắng muốt của cô, người xem cảm nhận được rõ tình yêu và lòng ham muốn của Baines, và hơn hết, đó là tình yêu nồng cháy anh dành cho cô. Tình yêu đó ngày một lớn lên, cùng những đụng chạm và gần gũi giữa hai người. Cây đàn piano đã trở thành nhân vật thứ ba trong câu chuyện tình yêu. Từng phím đàn, tiếng đàn là vật kết nối tình yêu khiến nó bùng lên và cháy mãnh liệt.

Chính bằng sự đồng cảm và tình yêu chân thành, Baines đã khuấy động tâm hồn vốn câm lặng của Ada. Không nói được thành lời, Ada đã đàn, tiếng đàn như tiếng nói của Ada, là tiếng lòng của trái tim cô. Khi phải đối diện với người chồng lạnh lùng và hung hãn, tình yêu trong Ada mới thực sự trỗi dậy. Lại một lần nữa, chúng ta được chứng kiến tính cách mạnh mẽ của Ada khi cô tìm mọi cách đến với Baines, lao vào vòng tay của anh và được anh ủ ấm, khi cô mộng mị và mơ nghĩ đến anh trong những ngày bị giam hãm tại nhà, khi cô gửi lời yêu thương của mình đến Baines qua một phím đàn bất chấp sự nguy hiểm nếu bị phát hiện… Người đàn bà ấy cũng đã câm lặng hoàn toàn khi bị chồng chặt đứt ngón tay, cô không rên la, không gào thét, với khuôn mặt vô hồn tưởng như cảm xúc đã chết, Ada chỉ ôm ngón tay đang chảy máu ròng ròng ngồi bệt xuống giữa đống bùn lầy, đẫm mình trong mưa. Phải chăng lúc đó, tình yêu đối với cây đàn piano đã tự động trở thành bức nền cho tình yêu của Ada và Baines, nỗi đau thể xác đối với cô lúc đó dường như không có ý nghĩa nữa.

Trong lễ trao giải Oscar năm 1993, The Piano – bộ phim của Jane Campion, một trong số ít những nữ đạo diễn gặt hái thành công, nhận nhiều đề cử và đoạt Oscar cho Nữ diễn viên chính xuất sắc (Holly Hunter), Nữ diễn viên phụ xuất sắc (Anna Paquin) và Kịch bản gốc hay nhất. Ngoài ra, phim còn đoạt giải Cành cọ vàng tại LHP Cannes 1993.

Jic (Ảnh: Ciby 2000)

Turtles Can Fly

23 Th12

Câu chuyện phim “Turtles Can Fly”, tạm dịch là “Những Chú Rùa Biết Bay”, diễn ra ở vùng Kurdistan, quê hương của đạo diễn Ghobadi, trong thời gian trước khi Mỹ đánh chiếm Iraq. Cậu bé Soran 13 tuổi, mệnh danh là “Vệ tinh do thám”, vì công việc của cậu là lắp đặt ăng ten cho người dân trong làng – những người muốn biết tin tức về Saddam. Cậu là thủ lĩnh năng nổ của bọn trẻ, tổ chức những cuộc gỡ mìn nguy hiểm nhưng cần thiết. Và những quả mìn chưa nổ được đem đi bán. Chàng “Vệ tinh” yêu mến cô bé mồ côi có khuôn mặt buồn rười rượi Agrin, đang đi với anh trai Henkov, người có khả năng tiên tri. Hai anh em đang chăm sóc cho 1 đứa trẻ 3 tuổi. Mối liên hệ giữa đứa bé và 2 anh em được nhận ra khi những sự thật nghiệt ngã dần dần được tiết lộ…

Marilyn Moonroe – Cuộc đời và sự nghiệp

10 Th10

Cuộc đời đầy bí ẩn với tài diễn xuất và vẻ đẹp trời phú, Marilyn Monroe được bình chọn là Người phụ nữ gợi cảm nhất thế kỷ 20 và là biểu tượng đặc sắc của “giấc mơ Mỹ”. Chỉ mới tham gia 30 bộ phim trong sự nghiệp, nhưng tên tuổi của cô sẽ còn mãi mãi trong lịch sử điện ảnh của nhân loại.

MM12.gif

Sinh ngày 1/6/1926 tại một nhà hộ sinh từ thiện thuộc bệnh viện thành phố Los Angeles, bang California, Marilyn Monroe tên thật là Norma Jeane Mortenson sau này cô đổi tên thành Norma Jean Mortenson. Cô là con gái của Gladys Pearl Monroe – một phụ nữ làm nghề cắt phim ở xưởng phim RKO và Martin Edward Mortenson. Nhưng Marilyn Monroe không biết mặt cha mình vì cha cô đã bỏ mẹ con cô sau sáu tháng hôn nhân. Tuổi thơ của Norma trôi qua trong cảnh nghèo khó. Mẹ cô bị căn bệnh tâm thần hành hạ nên Norman Jeane trú chân ở nhà tình thương nhiều hơn ở nhà mình.

MM_15.gif
(Bức ảnh này do nhiếp ảnh gia nổi tiếng André de Dienes chụp khi Monroe mới vừa tròn 19 tuổi.)

Trước khi trở thành thần tượng sắc đẹp, năm 16 tuổi, để thoát khỏi những ngày bơ vơ, vất vưởng trong trại trẻ mồ côi và lang thang cơ nhỡ, Norma  kết hôn với anh chàng láng giềng tên là James Dougherty – một công nhân nhà máy sản xuất máy bay. Cuộc hôn nhân của họ kéo dài 4 năm thì James phải gia nhập hải quân đi đến Nam Thái Bình Dương, khi đó Norma bắt đầu làm người mẫu áo tắm. Đây là cũng là thời điểm kết thúc cuộc tình đầu của Marilyn. Những tấm ảnh đầu tiên trong trang phục đi biển của cô đã gây chú ý cho giới nhiếp ảnh, đặc biệt cô đã lọt vào mắt xanh của nghệ sĩ nhiếp ảnh gia tài danh David Conover. Sau khi xuất hiện trên trang bìa của tạp chí Yank và hàng loạt các tạp chí khác, tên tuổi của cô trở nên nổi tiếng. Đây là cũng là thời điểm kết thúc cuộc tình đầu của Marilyn. Tháng 6/1946, Norma chính thức chia tay với James. Sau này, James Dougherty nhớ lại: “Chúng tôi không cãi vã, chỉ có một sự thật đau đớn là Norman muốn trở thành Marilyn còn tôi thì cố tìm cách chấp nhận điều đó”.

MM4.gif

Không lâu sau, Norma Jean nhuộm tóc thành màu vàng và đổi tên là Marilyn Monroe, dựa theo cô đào lừng danh thuở ấy là Marilyn Miller. Ngày 23 tháng 7 năm 1946, với cái tên Marilyn Monroe, cô đã ký bản hợp đồng đầu tiên với hãng phim Twentieth Century Fox với mức lương 125 USD/tuần. Kể từ thời điểm đó, cái tên Marilyn Monroe gắn liền với người phụ nữ từng được tôn vinh là Sex Goddess của thế kỷ 20.

Bộ phim đầu tiên mà Marilyn tham gia diễn xuất là “The Shocking Miss Pilgrim”. Tên tuổi của cô dần được khẳng định qua hàng loạt bộ phim “Let’s Make It Legal”, “As Young As You Feel”, “Monkey Business”, “Don’t Bother to Knock”… đặc biệt với bộ phim Niagara (1953) thế giới đã biết đến một Marilyn tóc vàng xinh đẹp, quyến rũ và tài năng trong diễn xuất.

MM2.gif
(Marilyn Monroe và Jane Russell in dấu tay trên nền xi măng ướt trong một buổi lễ trước cửa Nhà hát ở Hollywood, California, ngày 26/6/1953.)

Năm 1954, Marilyn kết hôn lần thứ hai với Joe DiMaggio – ngôi sao bóng chày. Nhưng cuộc hôn nhân này cũng chỉ kéo dài được 9 tháng bởi Joe là một người rất hay ghen.

Hai năm sau, năm 1956 Marilyn tự mình mở công ty điện ảnh mang tên Marilyn Monroe Productions và cho ra đời phim “The Prince and the Showgirl”. Cô vừa là nhà sản xuất vừa là diễn viên chính bên cạnh nam tài tử Laurence Olivier – kiêm đạo diễn của phim – đến từ xứ sở sương mù nước Anh xa xôi.

Cũng trong thời gian này, Marilyn kết hôn với nhà biên kịch Arthur Miller. Marilyn đã trở thành cảm hứng cho nhiều tác phẩm của Miller, trong đó có nhân vật Roslyn Taber trong bộ phim “The Misfits”. Năm 1959, cô vinh dự đoạt giải Quả cầu vàng dành cho Nữ diễn viên xuất sắc. Nhưng đáng tiếc là sau vinh dự này chỉ một năm, cuộc hôn nhân thứ ba lại tan vỡ! Mấy chục năm sau hồi tưởng lại cuộc hôn nhân đó, Miller nói rằng ông đã dồn hết tâm lực cố gắng chăm chút cho cuộc hôn nhân đó nhưng đã không thành công.

Bộ phim cuối cùng của Marilyn được hoàn tất năm 1961 – “The Misfits”. Đây cũng là bộ phim cuối cùng của huyền thoại Clark Gable – người ra đi chính vào năm đó vì bệnh tim.

MM10.gif

Mặc dù đang ở đỉnh cao của sự nghiệp nhưng thật bất ngờ năm 1962 lại là năm đánh dấu chấm hết cho sự nghiệp điện ảnh của Marilyn khi cô bị sa thải vì hoãn đi hoãn lại việc tham gia bộ phim “Something’s Got to Give”. Marilyn trở về Los Angeles sống một cách ẩn dật.

Những scandal tình ái mà đỉnh điểm là mối tình tay ba với anh em tổng thống John F.Kennedy đã góp phần đẩy Marilyn Moroe vào ngõ cụt. Đúng sinh nhật của John F. Kenedy năm đó, Marilyn đã làm mọi người bất ngờ và thích thú khi hát bài “Happy Birthday, Mr. President”. Người ta nói rằng: chưa một ai hát bài này lạ khiến người nghe xúc động và bồi hồi như Marilyn.

Ngày 05/08/1962, bà quản gia tìm thấy Marilyn nằm úp mặt xuống giường, cô đã ra đi khi mới 36 tuổi. Kết luận sau cuộc điều tra dai dẳng: Marilyn Monroe chết vì dùng thuốc ngủ quá liều! Dù không còn trên thế gian này nhưng cái tên Marilyn Monroe vẫn đồng nghĩa với vẻ đẹp bốc lửa và sự gợi tình.

MM1.gif
(Nhắc đến Marilyn Monroe, người ta nhớ ngay đến một cô đào với mái tóc vàng óng mượt, đôi môi đỏ chín mọng và một thân hình gợi cảm)

MM6.gif
(Cảnh Marilyn Monroe với chiếc váy xoè đứng trên nắp thông hơi ở một ga tàu điện ngầm New York đã trở thành một trong những cảnh nổi tiếng nhất trong lịch sử điện ảnh.)

MM_16.gif

MM13.gif

MM9.gif

MM14.jpg
(Bức ảnh quý hiếm của Marilyn Monroe lần đầu tiên được công bố)

MM3.gif
(Marilyn Monroe hát trước binh lính Mỹ trong buổi đầu tiên của tour diễn 4 ngày tại Hàn Quốc, ngày 22/2/1954.)

MM11.gif MM8.gif

MM7.gif

Theo Saga

Audrey Hepburn – Thiên thần Holywood

9 Th10

“Cô ấy không phải là một con bướm với bộ cánh xinh đẹp, cô ấy là một con chim bay đến từ thiên đường…” – trích phim The Nun’s Story (1959)

Gương mặt thanh tú, đôi mắt sáng ngời, vẻ đẹp thiên phú, tài năng, khí chất thanh lịch và một tâm hồn đẹp hiếm có, Audrey Hepburn là một trong những ngôi sao sáng nhất trong nền điện ảnh thế giới thế kỷ 20. Cô cũng luôn được xem là một trong những Người phụ nữ đẹp nhất mọi thời đại dưới con mắt của người dân Hoa Kỳ.

Họ và tên thật: Audrey Kathleen Ruston
Ngày sinh: 4/5/1929
Ngày mất: 20/1/1993 ( thọ 64 tuổi )
Nơi sinh: Brussels, Belgium
Cao: 1m70

Thởi thơ ấu trong chiến tranh

Audrey Kathleen Hepburn-Ruston sinh ngày 4/5/1929, là con của một chủ ngân hàng người Anh gốc Ireland và một nữ Nam tước người Hà Lan. Những tưởng tuổi thơ của cô được bao bọc trong sự giàu sang nhưng bất hạnh ập xuống khi cuộc tình của cha mẹ cô ngày càng rạn nứt. Cùng lúc, chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, Audrey được gửi về quê ngoại tại vùng Arnhem, Hà Lan.

Mặc dầu gia đình bên ngoại cô có dòng máu quý tộc dòng dõi, nhưng Audrey và mẹ cũng như bao con người khác phải trải qua những tháng ngày vô cùng khắc nghiệt của cuộc chiến tranh. Cuộc sống đói khổ, luôn nơm nớp lo sợ trước thảm hoạ bom đạn đang chực chờ vây quanh đất nước Hà Lan tươi đẹp. Cả hai anh trai của Audrey đều phải đi trốn, hoặc sẽ bị bắt đi lao dịch trong các trại lao động cưỡng chế. Và sau khi chiến tranh kết thúc, người anh cả cũng định cư lại tại miền Bắc AiLen.

Vào sinh nhật thứ 16 năm 1945, cô thiếu nữ Audrey đã chứng kiến cảnh cả đất nước Hà Lan than khóc cho cuộc chiến tranh đã tàn phá quê hương họ. Audrey chứng kiến hàng triệu con người sống khắc khoải từng ngày vì những căn bệnh thiếu máu, bênh hen, chứng phù thủng, viêm ruột … bên cạnh những thương tật đau đớn và cuộc sống bám từng ngày vì thiếu cái ăn. Chính Audrey trong thời điểm này cũng thiếu ăn đến nỗi cô phải dùng cả củ hoa tulip và cỏ nướng ăn với bánh mì. Từ những năm tháng này, cô cũng đã bắt đầu được tiếp cận với sự giúp đỡ của quỹ Cứu trợ UNICEF, và về sau này Audrey đã nhớ lại “Kể từ đấy, tôi biết UNICEF suốt cả đời tôi” . Trong thời gian này, Audrey từng xung phong làm một nữ y tá tình nguyện cho 1 bệnh viện để giúp đỡ và làm giảm bớt nỗi đau cho các bệnh nhân.

Mặc dù tuổi thơ trôi qua trong mưa bom bão đạn đầy cực khổ, Audrey vẫn đến trường học nhạc, học múa. Chiến tranh chấm dứt, năm 1948, cô theo mẹ sang định cư tại Anh và nhận được học bổng theo học trường múa ballet nổi tiếng Marie Ramberts. Tuy nhiên, trở ngại về chiều cao đã khiến cho Audery khó có thể hoàn thành ước mơ trở thành diễn viên múa ballet chuyên nghiệp. Audrey bắt đầu quay sang làm vũ công, nhưng đây là lĩnh vực hoàn toàn ko phù hợp với con người cô.

Vẻ đẹp khả ái của cô được giới nhiếp ảnh London đặc biệt quan tâm. Các nhà điện ảnh cũng liên tục mời Hepburn tham gia đóng phim. Và từ đó, cô đã bắt đầu nuôi dưỡng tình yêu của mình với một bộ môn nghệ thuật khác vừa mới hấp dẫn được Audrey kiều diễm – đó chính là điện ảnh. Sau một vài vai diễn nhỏ chưa gây được ấn tượng, Audrey đã ký hợp đồng với hãng Associated British Pictures Corporation.

Những bước thành công trong nghiệp diễn

Năm 1951, một sự tình cờ đã đẩy cuộc đời Audrey sang bước ngoặt mới. Trong một lần sang Italy biểu diễn, tình cờ cô gặp Colette, một nữ văn sĩ nổi tiếng người Pháp và được mời sang Mỹ diễn kịch. Đây chính là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho sự nghiệp điện ảnh của Audrey Hepburn tại Mỹ.

Khi đạo diễn William Wyler cần tìm một diễn viên mới vào vai công chúa Anh đi du lịch ở Roma trong Roman Holiday (1953), Wyler mời Audrey đến thử vai. Sau khi bí mật quay phim những trạng thái biểu lộ của Audrey, nhà đạo diễn đã nhận ra sự lúng túng ban đầu, những cử chỉ vụng về, nét mặt thơ ngây của Audrey đích thực là một nàng công chúa. Với bộ phim này, cô đã đoạt giải Oscar dành cho Diễn viên nữ xuất sắc nhất.

Công chúa Ann – phim Roman Holiday (1953)

Audrey đã thành công rực rỡ và trở thành thần tượng thuần khiết trong mắt hàng triệu thanh thiếu niên và được các nhà phê bình điện ảnh đánh giá cao. Cô tiếp tục con đường sự nghiệp thênh thang của mình bằng việc tham gia đóng các phim lớn như Sabrina (1954), War and Peace (1956), The Nun’s Story (1959), Breakfast at Tiffany’s (1961), My Fair Lady (1964)… Trong số đó, có đến bốn phim do Audrey đóng vai chính được đề cử Oscar dành cho Diễn viên nữ xuất sắc. Tài năng và tên tuổi của Audrey được cả thế giới nồng nhiệt đón nhận.

Cũng trong thời gian này, Audrey đã được gặp người chồng tương lai đầu tiên của mình – Mel Ferrer qua lời giới thiệu của anh bạn diễn Gregory Peck.

Tháng 9/1954, Audrey Hepburn kết hôn với diễn viên điện ảnh Mỹ nổi tiếng Mel Ferrer, cũng là một nhà đạo diễn sân khấu và một biên đạo múa tài năng, khi đó Mel đã có 4 đứa con với 3 đời vợ. Nhưng tình yêu giúp họ vượt qua mọi rào cản, Mel yêu mến người đồng nghiệp vì ngoài sắc đẹp, còn là sự dịu dàng đầy nữ tính, hiện thân của một tâm hồn thánh thiện, bao dung.

Hình ảnh của Audrey Hepburn còn khắc sâu trong tâm trí công chúng trong lĩnh vực thời trang. Cô được xem là một hiện thân của thời trang tao nhã nhưng cũng rất gần gũi và dễ áp dụng, cộng với chất thanh lịch quý phái tự nhiên của chính mình, Audrey Hepburn đã trở thành 1 huyền thoại thời trang không bao giờ lỗi mốt của thế giới. Vào năm 1961, chiếc áo đầm đen hở vai của nhà tạo mốt Givenchy do Audrey Hepburn thể hiện được bình chọn là Chiếc áo của năm. Với thân hình mảnh mai, gương mặt tự tin, trong sáng, mái tóc để kiểu cổ điển, Audrey đã thể hiện một phong cách mốt độc đáo. Phong cách đó được hãng đồng hồ Longines chọn làm biểu tượng quảng cáo cho đến nay.

Sự nghiệp thứ hai của Audrey Hepburn

Sau khi đã trải qua mọi vinh quang của nghiệp diễn, Audrey Hepburn bắt đầu lui về ở ẩn tại Thụy Sĩ. Và cũng từ đây, tình yêu của Audrey dành cho UNICEF lại quay trở lại trong trái tim của cô. Cô trở thành một nhà hoạt động xã hội tích cực. Với những cống hiến nổi bật cho lớp trẻ, Audrey đã được cử làm Đại sứ thiện chí của UNICEF, cô đã đến với hàng triệu trẻ em trên toàn thế giới, từ các nước châu Mỹ Latinh, đến những vùng châu Phi nghèo đói, đến với trẻ em các dân tộc thiệu số Việt Nam trên Tây Nguyên… Audrey đã tổ chức nhiều hình thức quyên góp, trở thành người tài trợ cho nhiều tổ chức trên thế giới.

Năm 1989, lần cuối cùng Audrey Hepburn nhận lời tham gia đóng phim. Đó là vai một thiên sứ áo trắng trong phim Always của đạo diễn Steven Spielberg. Tuy nhiên, sau chuyến công du vì mục đích cải thiện môi trường sống cho người dân tại Somalia, Audrey Hepburn bắt đầu đổ bệnh và phát hiện ra căn bệnh ung thư ruột của mình. Đầu tháng giêng năm 1993, hiệp hội diễn viên điện ảnh Mỹ đã quyết định trao tặng Audrey Hepburn giải Thành tựu trọn đời. Do căn bệnh ung thư vào giai đoạn cuối, cô không thể đến Los Angeles nhận giải, Audrey đã gửi thư cho tất cả các đồng nghiệp với lòng biết ơn chân thành.

Do căn bệnh ung thư đã bước vào giai đoạn cuối, Audrey Hepburn mất vào ngày 20/1/1993, thọ 64 tuổi. Cô đã để lại muôn vàn nỗi tiếc thương cho mọi người về hình ảnh của một thiên sứ xinh đẹp tuyệt vời vừa cất cánh bay đi mất.

*Các phim đã tham gia:

# Always (1989) …. Hap
# Love Among Thieves (1987) (TV) …. Baroness Caroline DuLac
# They All Laughed (1981) …. Angela Niotes
# Bloodline (1979) …. Elizabeth Roffe
# Robin and Marian (1976) …. Lady Marian
# Wait Until Dark (1967) …. Susy Hendrix
# Two for the Road (1967) …. Joanna Wallace
# How to Steal a Million (1966) …. Nicole Bonnet
# My Fair Lady (1964) …. Eliza Doolittle
# Paris – When It Sizzles (1964) …. Gabrielle Simpson/Gaby
# Charade (1963) …. Regina ‘Reggie’ Lampert
# The Children’s Hour (1961) …. Karen Wright
# Breakfast at Tiffany’s (1961) …. Holly Golightly
# The Unforgiven (1960) …. Rachel Zachary
# The Nun’s Story (1959) …. Sister Luke (Gabrielle van der Mal)
# Green Mansions (1959) …. Rima
# Love in the Afternoon (1957) …. Ariane Chavasse/Thin Girl
# “Producers’ Showcase”
– Mayerling (1957) TV Episode …. Marie Vetsera
# Funny Face (1957) …. Jo Stockton
# War and Peace (1956) …. Natasha Rostov
# Sabrina (1954) …. Sabrina Fairchild
# Roman Holiday (1953) …. Princess Ann
# “CBS Television Workshop”
– Rainy Day in Paradise Junction (1952) TV Episode
# The Secret People (1952) …. Nora Brentano
# Nous irons à Monte Carlo (1952) …. Melissa Walter
# Young Wives’ Tale (1951) …. Eve Lester
# The Lavender Hill Mob (1951) …. Chiquita
# Laughter in Paradise (1951) …. Cigarette girl
# One Wild Oat (1951) …. Hotel receptionist
# Monte Carlo Baby (1951) …. Linda Farrel

*Hát nhạc phim:

# My Fair Lady (1964) (performer: “Just You Wait”, “I Could Have Danced All Night”, “Just you Wait (Reprise)”)
# Funny Face (1957) (performer: “Funny Face”, “How Long Has This Been Going On?”, “Bonjour Paris”, “He Loves And She Loves”, “On How To Be Lovely”)
# Sabrina (1954) (performer: “La Vie En Rose”, “Yes! We Have No Bananas”)

*Các giải thưởng:

-Academy Awards, USA 1993 – Jean Hersholt Humanitarian Award
-Oscar: Best Actress in a Leading Role for: Roman Holiday (1953)
-BAFTA Film Award 1965: Best British Actress for: Charade (1963)
-BAFTA Film Award 1960: Best British Actress for: The Nun’s Story (1959)
-BAFTA Film Award 1954: Best British Actress for: Roman Holiday (1953)
-Emmy Awards: Outstanding Individual Achievement – Informational Programming for: “Gardens of the World with Audrey Hepburn” (1993) (mini) For episode “Flower Gardens”.
-Film Society of Lincoln Center 1991 – Gala Tribute
-Golden Globes, USA 1990 – Cecil B. DeMille Award
-Golden Globes, USA 1955 – Henrietta Award: World Film Favorite – Female
-Golden Globes, USA 1954: Best Motion Picture Actress – Drama for: Roman Holiday (1953)
-Laurel Awards 1968 – 2nd place – Golden Laurel: Female Star
-Laurel Awards 1968 – 3rd place – Golden Laurel: Female Dramatic Performance for: Wait Until Dark (1967)
-Laurel Awards 1965 – 3rd place – Golden Laurel: Comedy Performance, Female for: My Fair Lady (1964)
-Laurel Awards 1964 – 3rd place – Golden Laurel: Top Female Comedy Performance for: Charade (1963)
-Laurel Awards 1962 – 3rd place – Golden Laurel: Top Female Comedy Performance for: Breakfast at Tiffany’s (1961)
-Laurel Awards 1962 – 3rd place – Golden Laurel: Top Female Star
-Laurel Awards 1960 – 3rd place – Golden Laurel: Top Female Dramatic Performance for: The Nun’s Story (1959)
-Laurel Awards 1958 – Golden Laurel: Top Female Comedy Performance for: Love in the Afternoon (1957)
-New York Film Critics Circle Awards 1959: Best Actress for: The Nun’s Story (1959)
-New York Film Critics Circle Awards 1953: Best Actress for: Roman Holiday (1953)
-San Sebastián International Film Festival – Zulueta Prize: Best Actress for: The Nun’s Story (1959)
-Screen Actors Guild Awards 1993 – Life Achievement Award
-Star on the Walk of Fame – Motion Picture At 1650 Vine Street.
-Women in Film Crystal Awards 1996 – Crystal Award

Tổng hợp từ fabaudrey.com + DAN